Affichage des articles dont le libellé est kinh tế. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est kinh tế. Afficher tous les articles

jeudi 13 mars 2014

NĂM LOẠI THỰC PHẨM HÀNG ĐẦU NHẬP CẢNG TỪ TQ KHÔNG NÊN DÙNG


• CÁ RÔ PHI: Hiện nay, 80% nguồn cung cấp cá rô phi khoảng 173 ngàn tấn mỗi năm. Người nuôi cá ở Hoa Lục không cho con cái của họ ăn mà chỉ dùng để bán, vì họ sử dụng những loại hormone tăng trưởng và kháng sinh mạnh để cá có thể sống được trong môi trường “SIÊU BẨN”.
• CÁ TUYẾT: Khoảng 51% số lượng cá tuyết trong các chợ ở Mỹ có xuất xứ từ TQ, tương đương với khoảng 32 ngàn tấn mỗi năm. Những điều nói về cá rô phi tương tự đối với người nuôi cá tuyết.
• NƯỚC ÉP TÁO: Khoảng 50% số lượng nước ép táo được bán ở Mỹ có xuất xứ từ TC khoảng 367 triệu gallon, vì bã thuốc trừ sâu vẫn còn trong trái cây, rau và thực phẩm chế biến khi đưa đến nhà máy cung cấp thực phẩm đã từ lâu là một vấn nạn. TQ là nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu lớn nhất thế giới.
• NẤM CHẾ BIẾN SẴN: Nên tránh xa những loại nấm đóng hộp; 34% nấm chế biến sẵn là từ TQ, tức là 62.9 triệu pound (khoảng 28.5 ngàn tấn) mỗi năm.
• TỎI: Khoảng 31% số tỏi, tức 217.5 triệu pound (khoảng 98.6 ngàn tấn) có xuất xứ từ TQ. Bạn có thể thấy chúng được dán nhãn “sản phẩm hữu cơ”. Để kiếm lời, ai cũng có thể dán nhãn “hữu cơ”.
Những thông tin trên dựa vào dữ liệu năm 2011, được công bố ngày 08/5/2103 để làm chứng trước ỦY BAN SỰ VỤ QUỐC NGOẠI (House Committee on Foreign Affairs) về nguy cơ tiêu thụ sản phẩm không an toàn của TQ. Thực phẩm nhập cảng từ TQ tăng khoảng 7% mỗi năm.

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

TQ TUỒN Ồ ẠT HÀNG BẨN, HÀNG ĐỘC SANG VIỆT NAM TIÊU THỤ


Nhìn từ biên giới Việt – Trung, điểm tên một số cửa khẩu biên giới có:
• Cửa khẩu Lào Cai cho phép người dân đi qua cầu Hồ Kiều là sang tỉnh Vân Nam.
• Cửa khẩu Móng Cái nằm cách Hà Nội 327 km.
• Cửa khẩu Lạng Sơn cách Hà Nội 171 km.
• Cửa khẩu Đồng Văn với hệ thống đường sắt từ Hà Nội lên Lạng Sơn.
[1] Với vị trí địa lý như vậy, việc ngăn chận hàng độc, hàng bẩn xuất xứ từ TQ tuồn vào Việt Nam không phải là chuyện dễ dàng. Trong thời gian gần đây, các cơ quan chức năng liên tục phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển “thực phẩm bẩn” và thối trên địa bàn cả nước. Mới đây nhất là vụ bắt giữ hơn 23 tấn chân, đuôi bò thối không rõ nguồn gốc ở Hà Nội, rồi hàng loạt vụ tại TP. Sài Gòn. Nhiều người dân không khỏi rùng mình khi nghĩ, họ có thể là nạn nhân của không ít món thực phẩm bẩn và thối nầy.
[2] Gia cầm nhập lậu qua biên giới chính là “GÀ THẢI LOẠI” mà người Tàu không ăn. Trong khi người TQ nhập gà từ Việt Nam về ăn thì “gà thải loại” nhập lậu qua đừơng biên giới tràn ngập các chợ và các quán ăn của VN. Thường sau 40 tuần tuổi gà cho trứng ít lại, nếu thấy không còn lời nữa, gà sẽ được thanh lý. Đây chính là “gà thải loại”. Ăn gà loại nầy nguy hiểm đến sức khỏe càng cao, vì gà nuôi công nghiệp sẽ sử dụng thuốc kháng sinh để trị bệnh cho gà và cả thuốc kích thích tăng trưởng nhanh.

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

lundi 27 janvier 2014

10 container hàng nhập lậu từ Trung Quốc được thông quan VICT.


Có 90% mặt hàng nhập lậu từ Trung Quốc không có trong tờ kê khai hải quan của 10 container đã được thông quan bị các cơ quan chức năng bắt giữ, kiểm tra. Sự việc một lần nữa khiến nhiều người bàng hoàng vì không hiểu vì sao với số lượng hàng giả lớn như thế vẫn được thông quan.
10 container hàng nhập lậu từ Trung Quốc được thông quan VICT - Ảnh 1
Các cơ quan chức năng tiến hành kiểm đếm lô hàng trên 10 container.
Ngày 8/1, Phòng cảnh sát kinh tế (PC46) công an TP.HCM đã phối hợp với Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM tiến hành kiểm kê lô hàng gồm 10 container 40 feet đã bị tạm giữ trước đó. Kết quả kiểm tra cho thấy hàng loạt sản phẩm trong lô hàng này không có trong tờ khai hải quan nhập khẩu, nhiều mặt hàng nghi giả nguồn gốc xuất xứ. Theo một nguồn tin cho biết, 10 container hàng nói trên là do nhà xe Tuấn Hiệp vận chuyển đã được Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 3 cho thông quan.
Theo kết quả kiểm tra 2 container ban đầu cho thấy lượng hàng hóa rất đa dạng gồm: Thiết bị loa, đèn led, văn phòng phẩm, máy móc ngành dệt may, dụng cụ trang trí phục vụ tết (bánh pháo điện, giấy dán trang trí), đồ gia dụng... Trong đó, có 90% mặt hàng không hề được kê trong tờ khai hải quan nhập khẩu.
Trên tờ khai hải quan cho thấy, các công ty thực hiện nhập khẩu số hàng hóa trên gồm Công ty TNHH Tân Nhựt Huy Vĩnh Đạt (quận 11) và Công ty TNHH TM-XNK Nhất Minh (quận 6). Thế nhưng, dù đã bị tạm giữ từ đêm 30/12, nhưng đến ngày 8/1, PC46 và lực lượng QLTT TP.HCM mới tiến hành kiểm đếm hàng hóa vì không có bất cứ ai đứng ra nhận là chủ hàng. Cho đến nay, vẫn chưa ai biết chủ lô hàng là ai. Đơn vị trực tiếp vận chuyển lô hàng này là nhà xe Tuấn Hiệp cũng trả lời không hề biết chủ hàng là ai.
Liên quan đến hai công ty nói trên trong tờ khai hải quan, các cơ quan chức năng đã gửi thư mời nhưng cho đến thời điểm này cả hai công ty nhập khẩu vẫn chưa xuất hiện. Trong khi, trên bao bì các kiện hàng ghi rất rõ những thông tin, số điện thoại của người nhận hàng. Được biết, lô hàng nhập lậu nói trên do hai cán bộ kiểm hóa, giám sát cho thông quan là ông Hoàng Trường Thọ và Nguyễn Phước Tường, nhân viên hải quan cảng khu vực cảng VICT (cảng Sài Gòn KV3).
Một đại diện Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 3, đơn vị trực tiếp phụ trách cảng VICT cho biết, lô hàng 10 container là PC46 và Chi cục QLTT TP.HCM bắt giữ được doanh nghiệp khai báo hải quan là nhập khẩu hàng bách hóa. Chi cục hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 3 đã kiểm tra thực tế hàng hóa. Tỉ lệ kiểm tra là 5% ở tất cả các container. Cán bộ hải quan kiểm tra cho biết lô hàng đúng như khai báo trên tờ khai nên đã được thông quan. Điều đáng nói là ngoài 10 container hàng nhập lậu đã bị tạm giữ, lô hàng hiện vẫn còn 4 container đang nằm trong cảng nhưng doanh nghiệp nhập khẩu chưa khai báo hải quan. 
Lô hàng có giá trị hàng chục tỷ đồng
Một đại diện PC46 chia sẻ, bản thân chúng tôi cũng bất ngờ khi chứng kiến cảnh 10 container "hùng dũng" ra khỏi cảng, sau đó tập kết lại để chờ đưa hàng vào thành phố tiêu thụ. Số hàng này đều được nhập khẩu từ Trung Quốc "đổ bộ" vào thành phố nhằm tiêu thụ trong dịp tết. Theo dự định ban đầu, việc kiểm đếm lô hàng phải mất 5 ngày mới biết chính xác số lượng, giá trị hàng nhập lậu. Theo ước tính của cơ quan chức năng giá trị lô hàng lên tới hàng chục tỷ đồng.
THƠ TRỊNH

jeudi 23 janvier 2014

TRUNG QUỐC GẦN NHƯ NẮM TOÀN BỘ MỎ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

TRUNG QUỐC GẦN NHƯ NẮM TOÀN BỘ MỎ KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

NV- 23/1/2014       - Người Trung Quốc đang đứng phía sau, điều hành gần như toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam. Riêng miền Bắc, ít nhất cũng có 60% mỏ mang “dấu vết” của doanh nghiệp Trung Quốc.

Đó là nhận định của ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản của Bộ Tài nguyên – Môi trường, tại cuộc gặp đại diện những doanh nghiệp đang khai thác khoáng sản ở miền Nam.

Ông Thuấn khẳng định, nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc và thừa nhận, trước đây, việc khai thác khoáng sản “nở rộ như hoa”. Theo một thống kê vào năm 2010, nhà cầm quyền các cấp đã cấp khoảng 5,000 giấy phép khai khoáng cho hơn 2,000 doanh nghiệp và “rất nhiều doanh nghiệp đã bán lại giấy phép”

Viên Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản nói rằng, tiếp tục đào bới như thế sẽ là thảm họa cho quốc gia. Nhà cầm quyền sẽ xiết chặt việc khai thác khoáng sản.

Trong thập niên vừa qua, hoạt động buôn lậu giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân Trung Quốc đã chuyển sang lĩnh vực khoáng sản. Đó cũng là lý do khiến thăm dò, khai thác, buôn lậu khoáng sản tại Việt Nam càng ngày càng trầm trọng và đã được xác định là có sự thao túng của các thế lực ngầm.

Hồi tháng 8 năm ngoái, lần đầu tiên, Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường của Việt Nam chính thức thừa nhận, hơn 50% giấy phép đã được cấp để thăm dò, khai thác khoảng sản, vi phạm những qui định hiện hành.

Lúc đó, trả lời chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường CSVN cho biết, sau khi kiểm tra việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản trên phạm vi toàn quốc, bộ này phát giác, 57 trong số 63 nhà cầm quyền tỉnh, thành phố đã cấp 957 giấy phép liên quan tới khoáng sản. Bao gồm 275 giấy phép thăm dò khoáng sản và 682 giấy phép khai thác khoáng sản.

Hơn 50% số giấy phép này vi phạm hàng loạt qui định hiện hành: Cấp giấy phép sai thẩm quyền, cấp giấy phép khi chưa có quy hoạch khoáng sản, cấp giấy phép khi chưa có quyết định phê duyệt trữ lượng khoảng sản, cấp giấy phép khi không có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc có cam kết bảo vệ môi trường, cấp giấy phép khi ngành nghề trong hồ sơ kinh doanh không phù hợp, cấp giấy phép cấp khi hồ sơ không có giấy chứng nhận đầu tư, cấp giấy phép khi hồ sơ không có quyết định phê duyệt dự án đầu tư khai thác khoáng sản, cấp giấy phép thăm dò ở khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản...
 
Cũng theo viên Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường của Việt Nam, nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng hơn 50% số giấy phép đã cấp vi phạm hàng loạt qui định hiện hành là vì “những người trong cuộc” tìm đủ mọi lý do để lách luật!

Việt Nam hiện có hơn 5,000 mỏ đang khai thác khoảng 60 loại khoáng sản thuộc nhiều nhóm khác nhau: Nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than), nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, chromite, titan, manganese), nhóm khoáng sản kim loại màu (bauxite, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimony, molypden), nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý), nhóm khoáng sản hóa chất công nghiệp (apatite, cao lanh, cát thủy tinh), nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát).

Một nghiên cứu của Viện Khoa học Địa chất Khoáng sản cho biết, trong mười năm qua, tình trạng khai thác khoáng sản đã tăng cả về loại khoáng sản, lẫn quy mô, tính chất, mức độ vi phạm. Điểm đáng lưu ý là trong khi nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam thiếu nguyên liệu để sản xuất nên chỉ hoạt động cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa thì sau khi khai thác, khoáng sản thô lại ùn ùn chảy sang Trung Quốc.

Do nhiều cá nhân có quyền, nhiều nơi có trách nhiệm nên quặng lậu có nhiều “lỗ thủng” để chảy ra khỏi Việt Nam. Xuất cảng lậu khóang sản, kích thích thăm dò, khai thác khoáng sản hủy diệt môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên.

Vào tháng 5 năm 2013, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (viết tắt là PAN) công bố nghiên cứu về “Khoáng sản - phát triển - môi trường: Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế”. Theo đó, vì giàu khoáng sản, Việt Nam xem công nghiệp khai thác khoáng sản (khai khoáng) là một trong những ngành mũi nhọn để tạo việc làm, tăng ngân sách cho địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên kết quả khảo sát của PAN cho thấy, công nghiệp khai khoáng hiện chỉ gây ra những tác động tiêu cực cho môi trường và sinh hoạt xã hội.

Tuy khoáng sản được xem như tài sản toàn dân song PAN cho rằng, trên thực tế, phần lớn lợi nhuận đang chảy vào túi các doanh nghiệp, để mặc cộng đồng dân chúng địa phương gánh chịu thiệt thòi. Cách quản lý, điều hành công việc khai khoáng chính là nguyên nhân khiến khai khoáng giống như hủy diệt.  














                                                                                                                                                                                   
 NV- 23/1/2014 - Người Trung Quốc đang đứng phía sau, điều hành gần như toàn bộ hoạt động khai thác khoáng sản tại Việt Nam. Riêng miền Bắc, ít nhất cũng có 60% mỏ mang “dấu vết” của doanh nghiệp Trung Quốc. Đó là nhận định của ông Nguyễn Văn Thuấn, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản của Bộ Tài nguyên – Môi trường, tại cuộc gặp đại diện những doanh nghiệp đang khai thác khoáng sản ở miền Nam. Ông Thuấn khẳng định, nhiều giấy phép khai khoáng đã được bán cho doanh nghiệp Trung Quốc và thừa nhận, trước đây, việc khai thác khoáng sản “nở rộ như hoa”. Theo một thống kê vào năm 2010, nhà cầm quyền các cấp đã cấp khoảng 5,000 giấy phép khai khoáng cho hơn 2,000 doanh nghiệp và “rất nhiều doanh nghiệp đã bán lại giấy phép” Viên Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản nói rằng, tiếp tục đào bới như thế sẽ là thảm họa cho quốc gia. Nhà cầm quyền sẽ xiết chặt việc khai thác khoáng sản. Trong thập niên vừa qua, hoạt động buôn lậu giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân Trung Quốc đã chuyển sang lĩnh vực khoáng sản. Đó cũng là lý do khiến thăm dò, khai thác, buôn lậu khoáng sản tại Việt Nam càng ngày càng trầm trọng và đã được xác định là có sự thao túng của các thế lực ngầm. Hồi tháng 8 năm ngoái, lần đầu tiên, Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường của Việt Nam chính thức thừa nhận, hơn 50% giấy phép đã được cấp để thăm dò, khai thác khoảng sản, vi phạm những qui định hiện hành. Lúc đó, trả lời chất vấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường CSVN cho biết, sau khi kiểm tra việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản trên phạm vi toàn quốc, bộ này phát giác, 57 trong số 63 nhà cầm quyền tỉnh, thành phố đã cấp 957 giấy phép liên quan tới khoáng sản. Bao gồm 275 giấy phép thăm dò khoáng sản và 682 giấy phép khai thác khoáng sản. Hơn 50% số giấy phép này vi phạm hàng loạt qui định hiện hành: Cấp giấy phép sai thẩm quyền, cấp giấy phép khi chưa có quy hoạch khoáng sản, cấp giấy phép khi chưa có quyết định phê duyệt trữ lượng khoảng sản, cấp giấy phép khi không có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc có cam kết bảo vệ môi trường, cấp giấy phép khi ngành nghề trong hồ sơ kinh doanh không phù hợp, cấp giấy phép cấp khi hồ sơ không có giấy chứng nhận đầu tư, cấp giấy phép khi hồ sơ không có quyết định phê duyệt dự án đầu tư khai thác khoáng sản, cấp giấy phép thăm dò ở khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản... Cũng theo viên Bộ trưởng Tài nguyên – Môi trường của Việt Nam, nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng hơn 50% số giấy phép đã cấp vi phạm hàng loạt qui định hiện hành là vì “những người trong cuộc” tìm đủ mọi lý do để lách luật! Việt Nam hiện có hơn 5,000 mỏ đang khai thác khoảng 60 loại khoáng sản thuộc nhiều nhóm khác nhau: Nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầu khí, than), nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, chromite, titan, manganese), nhóm khoáng sản kim loại màu (bauxite, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimony, molypden), nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý), nhóm khoáng sản hóa chất công nghiệp (apatite, cao lanh, cát thủy tinh), nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xây dựng, đá ốp lát). Một nghiên cứu của Viện Khoa học Địa chất Khoáng sản cho biết, trong mười năm qua, tình trạng khai thác khoáng sản đã tăng cả về loại khoáng sản, lẫn quy mô, tính chất, mức độ vi phạm. Điểm đáng lưu ý là trong khi nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam thiếu nguyên liệu để sản xuất nên chỉ hoạt động cầm chừng, thậm chí phải đóng cửa thì sau khi khai thác, khoáng sản thô lại ùn ùn chảy sang Trung Quốc. Do nhiều cá nhân có quyền, nhiều nơi có trách nhiệm nên quặng lậu có nhiều “lỗ thủng” để chảy ra khỏi Việt Nam. Xuất cảng lậu khóang sản, kích thích thăm dò, khai thác khoáng sản hủy diệt môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên. Vào tháng 5 năm 2013, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (viết tắt là PAN) công bố nghiên cứu về “Khoáng sản - phát triển - môi trường: Đối chiếu giữa lý thuyết và thực tế”. Theo đó, vì giàu khoáng sản, Việt Nam xem công nghiệp khai thác khoáng sản (khai khoáng) là một trong những ngành mũi nhọn để tạo việc làm, tăng ngân sách cho địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên kết quả khảo sát của PAN cho thấy, công nghiệp khai khoáng hiện chỉ gây ra những tác động tiêu cực cho môi trường và sinh hoạt xã hội. Tuy khoáng sản được xem như tài sản toàn dân song PAN cho rằng, trên thực tế, phần lớn lợi nhuận đang chảy vào túi các doanh nghiệp, để mặc cộng đồng dân chúng địa phương gánh chịu thiệt thòi. Cách quản lý, điều hành công việc khai khoáng chính là nguyên nhân khiến khai khoáng giống như hủy diệt.

đăng bởi: facebooker TTim TTím.

mardi 14 janvier 2014

Nhà hàng Trung Quốc bỏ thuốc phiện vào thức ăn để giữ khách

(TNO) Một số nhà hàng ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) đã bỏ thuốc phiện vào các món ăn để tăng ''hương vị'' khiến thực khách bị ''nghiện'' và quay lại ăn nhiều lần.

Trong một đợt thanh tra 70 nhà hàng vừa qua, cơ quan quản lý dược và thực phẩm thành phố Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông) đã phát hiện 2 nhà hàng bỏ thuốc phiện vào thức ăn phục vụ thực khách, theo tờ Yangcheng Evening News (Trung Quốc) ngày 13.10.
Do hai nhà hàng này chỉ sử dụng lượng nhỏ thuốc phiện nên chỉ bị phạt 50.000 nhân dân tệ (1.700 USD).
Ngay sau đó, chính quyền Quảng Đông nghiêm cấm tất cả các nhà hàng bỏ thuốc phiện vào thức ăn dù “ít hay nhiều”.
Cơ quan quản lý dược và thực phẩm thành phố Quảng Châu cảnh báo người dân cẩn trọng khi đi ăn nhà hàng vì thức ăn trộn thuốc phiện có thể gây ngộ độc.
An toàn vệ sinh thực phẩm là một vấn đề nhạy cảm ở Trung Quốc, nơi chứng kiến hàng loạt những vụ bê bối thực phẩm nhưdầu ăn bẩn, thịt chuột giả thịt cừu, trứng giả, gạo giả và sữa trẻ em nhiễm hóa chất độc hại...
www.thanhnien.com.vn-Phúc Duy

dimanche 22 décembre 2013

VIỆT NAM NHẬP SIÊU TỪ TRUNG QUỐC TỚI 21.6 TỶ USD



NV-(
www.nguoi-viet.com) 21/12/2013 -Theo Tổng cục Hải quan CSVN, trong 11 tháng vừa qua, nhập siêu từ Trung Quốc là 21.6 tỉ USD. Năm ngoái, con số này là 16.4 tỷ USD mà nhiều người đã cho là rất nghiêm trọng. Hàng Trung Quốc từ củ khoai củ tỏi đến quần áo, đồ nhựa, máy móc điện tử tràn lan tại Việt Nam là lý do nhập siêu từ Trung Quốc tăng vọt. 

Ngoài số liệu vừa kể do Tổng cục Hải quan cung cấp, đầu tuần này, tại một hội nghị bàn về việc thực hiện thỏa thuận thương mại tự do, Bộ Công Thương CSVN xác nhận, chỉ trong 10 năm, từ 2001 đến 2012, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc đã tăng 76 lần, từ 210 triệu USD hồi 2001, thành 16 tỷ USD vào năm 2012.

Cũng vì vậy, số liệu chính thức về nhập siêu từ Trung Quốc của cả năm 2013 chắc chắn sẽ làm nhiều người choáng váng.

Không phải ngẫu nhiên mà năm ngoái và năm nay, các chuyên gia kinh tế cũng như một số viên chức Việt Nam liên tục cảnh báo nguy cơ lệ thuộc Trung Quốc về kinh tế, tại các hội thảo, hội nghị. Thậm chí là tại diễn đàn Quốc hội.

Hồi tháng sáu, thống kê cho biết, bốn tháng đầu năm 2013, Việt Nam chi 40.2 tỷ USD cho việc nhập cảng, trong đó có tới 10 tỷ USD chỉ để nhập cảng nguyên liệu, vật liệu, phụ liệu, hàng hóa của Trung Quốc. Ông Võ Trí Thành, một chuyên gia kinh tế, khẳng định, điều đó cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liêu của Trung Quốc.

Nếu Trung Quốc ngừng xuất cảng chúng sang Việt Nam, sẽ có hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam hấp hối vì không kịp ứng phó. Ông Thành than rằng, cả khả năng cạnh tranh lẫn công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam quá yếu, vì vậy Việt Nam đang phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc cả về hàng trung gian lẫn hàng tiêu dùng cuối cùng.

Trước đó một chút, vào cuối tháng 5, ông Trương Trọng Nghĩa, một đại biểu Quốc hội Việt Nam đã từng soạn một tham luận, cũng nhằm cảnh báo về tình trạng kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Ông Nghĩa yêu cầu cần phải điều tra để có đầy đủ số liệu, thông tin về sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc.

Ông Nghĩa cảnh báo: “Thua kém có nhiều mức độ, nhưng lệ thuộc về kinh tế là sự thua kém đáng sợ nhất, nhất là khi nó đi kèm với mối đe dọa về chủ quyền lãnh thổ”. Tuy nhiên tham luận này không được những người điều hành kỳ họp hồi tháng 5 của Quốc hội CSVN cho trình bày tại diễn đàn Quốc hội bởi… “Quốc hội không đủ thời gian”.

Đến tháng 8, các chuyên gia lại tiếp tục cảnh báo về một khía cạnh khác trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Đó là kinh tế Việt Nam bị suy yếu nhanh chóng do tài nguyên bị tận thu để bán cho Trung Quốc, bất chấp nền kinh tế đang cần nội lực để hồi phục.

Chẳng hạn do thiếu than để vận hành các nhà máy nhiệt điện, Việt Nam phải ký hợp đồng nhập cảng 3 triệu tấn than/năm từ Úc, trong khi đó, sáu tháng đầu năm 2013, có 2 triệu tấn than bị xuất lậu sang Trung Quốc.

Ngoài than, quặng sắt của Việt Nam cũng đang ồ ạt chảy sang Trung Quốc. Theo Hải quan Trung Quốc, năm ngoái, Trung Quốc nhập cảng 1.7 triệu tấn quặng sắt từ Việt Nam trong khi nhiều nhà máy thép của Việt Nam phải đóng cửa, ngưng hoạt động vì thiếu nguyên liệu.

Xuất lậu khoáng sản sang Trung Quốc vừa lãng phí tài nguyên, vừa thất thu hàng ngàn tỉ đồng tiền thuế, vừa ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất trong nước vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, nhưng không thể ngăn chặn.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc Ban Quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng, nhận định, tình trạng khoáng sản của Việt Nam bị xuất lậu sang Trung Quốc kéo dài nhiều năm vì có sự móc ngoặc giữa các doanh nghiệp xuất cảng với những lực lượng có trách nhiệm kiểm soát.

Đối với quặng sắt, vì các nhà máy, cơ sở luyện gang thép kêu cứu do thiếu nguyên liệu, chế độ Hà Nội đã ra lệnh cấm xuất quặng thô sang Trung Quốc. Nhưng cũng tháng trước, một viên chức của Hiệp hội Thép Việt Nam khẳng định, lệnh cấm đó bất khả thi bởi đứng sau các nhóm khai thác – xuất cảng quặng sắt sang Trung Quốc là con cháu nhiều cán bộ lãnh đạo các tỉnh.

Theo một vài chuyên gia kinh tế, không thể tách tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc và những dấu hiệu cho thấy kinh tế Việt Nam càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc ra khỏi sự câu kết rất chặt chẽ giữa các thế lực kinh tế mà chủ yếu là các doanh nghiệp lớn của nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân lớn, với các thế lực chính trị, để các bên đạt tới lợi ích lớn nhất mà Việt Nam thường gọi là nhóm lợi ích.